Bài đăng nổi bật

Hướng dẫn thay đổi thư mục root mặc định của Docker trên Linux

Hoàn cảnh: người viết gặp một trường hợp như này Được team hạ tầng cấp cho một máy chủ gồm 2 phân vùng lưu trữ, 1 phân vùng 20GB được gắn và...

18 tháng 10, 2013

Cấu hình proxy trong Ubuntu bằng terminal

Bài này chúng ta sẽ tập trung vào thao tác cấu hình proxy cho các máy chạy Ubuntu bằng dòng lệnh ("terminal").
Ta sẽ tập trung giải quyết cho các câu hỏi:
  • Mạng nội bộ của tôi sử dụng proxy, tôi phải cấu hình nó như nào?
  • Tôi đã cài đặt proxy cho hệ thống, tuy nhiên lệnh "apt-get install" lại không thể cài đặt được phần mềm 
Trước hết, để sử dụng được proxy trên các máy chạy Ubuntu, ta cần phải thêm thông tin cấu hình vào tập tin "/etc/enviroment". Nội dung cần thêm như sau:
HTTP_PROXY="http://10.61.11.38:3128/"
HTTPS_PROXY="http://10.61.11.38:3128/"
FTP_PROXY="http://10.61.11.38:3128/"
NO_PROXY="localhost,127.0.0.1,localaddress,.localdomain.com"

http_proxy="http://10.61.11.38:3128/"
https_proxy="http://10.61.11.38:3128/"
ftp_proxy="http://10.61.11.38:3128/"
no_proxy="localhost,127.0.0.1,localaddress,.localdomain.com"

Ta để cả in hoa và in thường để phòng trường hợp có một số ứng dụng không nhận một trong hai kiểu.
Tiếp theo, để có thể sử dụng proxy với lệnh "apt-get install" ta phải làm như sau.
Mở tập tin "/etc/apt/apt.conf" và thêm vào nội dung sau:

Acquire::http::proxy "http://10.61.11.38:3128/";

Sở dĩ phải thêm nội dung này do apt-get luôn bỏ qua nội dung trong tập tin enviroment.

Link tham khảo: http://askubuntu.com/questions/158557/setting-proxy-from-terminal

08 tháng 10, 2013

Abstract và Interface trong java

Bài viết này, người viết không nhằm mục đích đi sâu vào việc giải thích về hai thành phần này trong Java mà chỉ lạm bàn về mục đích, sự khác biệt trong sử dụng của chúng. Mọi vấn đề sẽ chỉ dừng ở hiểu biết của chính bản thân người viết.
Trước tiên câu hỏi đặt ra ở đây là "Ta sử dụng hai cái này như thế nào?"
  • Abstract class: sẽ được dùng khi chúng ta biết rõ một số thao tác cần phải có ở đây nhưng chưa rõ nếu đi vào cụ thể thì nó phải được thực hiện như thế nào và một số thao tác đã biết rõ rồi. Lấy ví dụ như ta có một lớp Vehicles, như vậy những thao tác mà ta biết rõ sẽ gồm như bơm hơi nhưng một số thao tác ta chỉ biết chung chung là nổ máy nhưng cụ thể với xe như nào thì làm như nào lại chưa biết.
  • Interface class: có thể hiểu nó cũng giống như abstract class, tuy nhiên, mọi method của nó đều chỉ là một declare (tức là không có nội dung) và phải để các lớp con của nó định nghĩa cụ thể.

29 tháng 8, 2013

Cấu hình mạng trên Linux

Cái này là một kinh nghiệm "đau thương" của người viết gặp phải khi triển khai hệ thống máy chủ cho cty của mình. Đó là khi tôi cố gắng cài đặt mạng cho một máy chủ chạy Ubuntu server 10.04 LTS 64 bit. Tôi đã cấu hình trực tiếp vào file /etc/network/interface và /etc/resolv.conf nhưng không thể được.
Hiện tượng tôi gặp phải là:
  • Ping chỉ lên tới gateway, không ra được mạng.
  • Trên máy có 2 card mạng (eth0 và eth1), không hiểu sao khi tôi cấu hình thì các thông số card luôn bị "dính" tức là khi tôi thêm thông số cho eth0, nhưng sau đó thay đổi lại thì eth0 vẫn giữ các giá trị cũ.
Vì vậy, trong bài này, tôi sẽ hướng dẫn bạn một cách cấu hình khác, không theo lối cũ và tôi khuyên bạn chỉ dùng cách này khi cách ở trên đã vô hiệu.
Nội dung bài viết được viết theo tiến trình tìm hiểu của người viết, không phải theo cách làm step-by-step.
Bài học số 1: Cấu hình mạng bằng lệnh ifconfig
  • Để xem thông tin của một card mạng ta dùng lệnh sau:
    ifconfig eth0 (eth0 là tên card mạng cần xem, có thể là eth1, wlan0,...)
  • Xem thông tin của tất cả card mạng trong hệ thống ta dùng lệnh sau:
    ifconfig -a
  • Tắt một card mạng:
    ifconfig eth0 down (eth0 là tên card mạng cần xem, có thể là eth1, wlan0,...)
  • Bật một card mạng:
    ifconfig eth0 up (eth0 là tên card mạng cần xem, có thể là eth1, wlan0,...)
  • Gán ip cho một card mạng:
    ifconfig eth0 192.168.2.2 (eth0 là tên card mạng cần xem, có thể là eth1, wlan0,...)
  • Thay đổi subnet mask cho một card mạng:
    ifconfig eth0 netmask 255.255.255.0 (eth0 là tên card mạng cần xem, có thể là eth1, wlan0,...)
  • Thay đổi broadcast cho một card mạng:
    ifconfig eth0 broadcast 192.168.2.255
Xem thêm tại: link tham khảo
Bài học số 2: cấu hình gateway cho mạng bằng lệnh route
Cái này chỉ cần lệnh sau:
route add default gw 192.168.1.254 eth0 (eth0 là tên card mạng cần xem, có thể là eth1, wlan0,...)
Xem thêm tại: link tham khảo
Bài học số 3: khởi động lại vẫn giữ được những thông tin vừa cấu hình
Lưu ý, những điều bạn vừa làm ở trên, sau khi khởi động lại máy sẽ bị mất. Vậy muốn giữ bạn phải làm như sau:
Mở tập tin /etc/rc.local và thêm các dòng sau vào trước "exit 0".
sudo ifconfig eth0 192.168.2.2
sudo  ifconfig eth0 netmask 255.255.255.0
sudo ifconfig eth1 down (cái này là tôi disable card eth1 đi cho khỏi xung đột thôi, bạn muốn thêm hay không thì tùy)
sudo ifconfig eth0 up
sudo route add default gw 192.168.1.254 eth0
Xem thêm tại: link tham khảo
Bài học số 4: máy có nhiều card mạng, biết là mình đang cắm dây vào card nào đây?
Cái này, tôi nhiều lần bị vướng, cắm cable mạng vào đuôi máy nhưng không biết đó là card số mấy. Kinh nghiệm là làm như sau:
Cắm cable mạng vào đã.
Dùng lệnh ifconfig tắt tất cả các card mạng đi, sau đó lần lượt bật từng cái một lên, bật cái nào thì tắt các cái còn lại đi. Tới khi nào bạn thấy đèn báo mạng nháy ở vị trí cắm thì đó chính là card mạng bạn muốn tìm.

File descriptor trong Linux

Mô tả nôm na thì số lượng file descriptor là số file mà một người dùng hệ thống có thể mở trong một phiên làm việc của mình.
 Hard limit là thông số chỉ có thể thay đổi bởi người quản trị, nó là giới hạn trên của soft limit, các soft limit không được vượt quá giá trị của hard limit.
Soft limit là thông số có thể thay đổi bởi user và process, nó là giá trị quy định số file có thể mở cùng lúc trong một phiên làm việc và không thể lớn hơn giá trị quy định trong hard limit.
Để xem giá trị của hard limit và soft limit ta làm như sau:
  • Chuyển sang người dùng muốn xem, ví dụ user1.
  • Xem hard limit bằng lệnh: ulimit -Hn
  • Xem soft limit bằng lệnh: ulimit -Sn
Để tác động tới các giá trị này trong toàn hệ thống
 Để thay đổi với toàn hệ thống, người dùng cần thay đổi giá trị của hard limit và soft limit trong tập tin /etc/sysctl.conf.
Khi gặp trường hợp số tập tin mở cùng lúc vượt quá mức quy định, bạn cần làm như sau:
  • Thay đổi giá trị trong tập tin /proc/sys/fs/file-max bằng người dùng root
    sysctl -w fs.file-max=10000
    Lệnh này sẽ yêu cầu thay đổi giá trị sang 10000
  • Sau khi đổi bạn cần thay đổi giá trị trong tập tin /etc/sysctl.conf để thông tin thay đổi vẫn được giữ nguyên khi khởi động lại máy, bằng cách thêm dòng sau vào:
    fs.file-max = 10000
  • Sau đó gõ lệnh sau để áp dụng các thay đổi:
    sysctl -p
Để tác động tới các giá trị này của người dùng:
Để thay đổi với người dùng cụ thể , ta thay đổi nội dung trong tập tin /etc/security/limits.conf.
Ví dụ để thay đổi giá trị cho user1, ta thêm các giá trị sau:
user1 soft nofile 1024
user1 hard nofile 2048

05 tháng 8, 2013

Các thủ thuật hay cho người quản trị hệ thống Zimbra (update ngày 05/08/2013)

1 - Tôi muốn thống kê tình trạng sử dụng của người dùng trong hệ thống
Bạn chạy lệnh sau:
zmprov gqu domain.com
Hệ thống sẽ hiển thị theo cấu trúc sau:
Tên account - Quota đã dùng - Quota được cấp.
Xem thêm tại:
http://wiki.zimbra.com/wiki/Mailbox_usage_report
2 - Tôi muốn thống kê tình trạng sử dụng message của hệ thống.
Bạn chạy lệnh sau:
zmdailyreport
với lệnh này, bạn sẽ có các tùy chọn sau:
--user Report usage for only
--mail Send report via email, default is stdout
--now Shortcut for midnight to the current time
--time , Default is midnight to midnight of the previous day

Xem thêm tại:
http://www.zimbra.com/forums/administrators/27700-solved-monthly-messages-report.html

07 tháng 5, 2013

Lập trình hướng đối tượng với Javascript

Đây là bài tổng kết vì các bộ quy tắc lập trình hướng đối tượng trong Javascript.
Cái lợi của nó ở đây sẽ là:
  • Code rõ ràng hơn rất nhiều.
  • Maintaince dễ hơn.
  • Code có cấu trúc hơn, dễ đọc hơn.
  • Và cuối cùng sẽ dễ dàng hơn cho những người muốn chuyển từ các ngôn ngữ như Java, C++ sang Javascript
Bài viết này mình sẽ chỉ tổng hợp lại một số ý chính cần nhớ, không dông dài (vì đọc thấy nguồn tài liệu trên mạng thì nhiều nhưng toàn "khoai" quá, đọc mãi mà cũng chỉ nắm được tí tí). Cấu trúc đại khái của một class trong Javascript nó sẽ thế này:
//hàm khởi tạo
function Classname(){
      //Khai báo các biến private
      var var1 = value;
      var var2 = value;
      //khai báo các biến public
      this.var3 = value;
      this.var4 = value;
      //Khai báo các hàm private
      function method1(){
      }
}
//Nếu Class này kế thừa một class khác thì dùng phần này
Classname.prototype = new ParentClass();
Classname.prototype.constructor = Classname;
//Khai báo thêm các biến public ở đây
Classname.prototype.var5 = value;
//Khai báo hàm public như này
Classname.prototype.method2 = function(){
}
//Khai báo hàm static và biến static như này:
Classname.var6 = value;
Classname.method = function(){
}

Và đây là bộ quy tắc:
  • Biến private chỉ có thể truy cập bằng hàm private và hàm privileged
  • Biến public có thể truy cập từ trong và ngoài của Object.
  • Biến và hàm static có thể sử dụng mà không cần khởi tạo Object
  • Một properties nếu được khai báo là một prototype thì có thể bị ghi đè.
  • Nếu khai báo một biến hoặc hàm với từ khoá var nằm độc lập (không nằm trong hàm nào của Class) thì nó sẽ được coi là một biến hoặc hàm Global.
  • Từ khoá this:
    •  Nếu khi khởi tạo đối tượng ta dùng từ khoá new, thì this sẽ là đối tượng đó.
    • Nếu không có từ khoá new thì this sẽ là một global object
    • Tốt nhất là nên có new nếu không thì sẽ chịu hậu quả khó lường khi dùng this
  •  Một nguyên tắc khi truy câp các dạng biến (cái này cho java, không phải cho javascript tuy nhiên có thể áp dụng được):
    Modifier    | Class | Package | Subclass | World
    ————————————+———————+—————————+——————————+———————
    public      |  ✔    |    ✔    |    ✔     |   ✔
    ————————————+———————+—————————+——————————+———————
    protected   |  ✔    |    ✔    |    ✔     |   ✘
    ————————————+———————+—————————+——————————+———————
    no modifier |  ✔    |    ✔    |    ✘     |   ✘
    ————————————+———————+—————————+——————————+———————
    private     |  ✔    |    ✘    |    ✘     |   ✘
Một số lưu ý:
  • Unconfirm: nếu một biến là undefine thì trong các phép toán boolean nó sẽ có giá trị là false.

12 tháng 3, 2013

Gửi mail tới Yahoo và Gmail bằng Java

1 - Gửi mail tới Yahoo bằng java
Dưới đây là code ví dụ:
//Use TLS protocal
        Properties props = new Properties();
        props.put("mail.smtp.auth", "true");
        props.put("mail.smtp.starttls.enable", "true");
        props.put("mail.smtp.host", "smtp.mail.yahoo.com");
        props.put("mail.debug", "false");
        //props.put("mail.smtp.socketFactory.class", "javax.net.ssl.SSLSocketFactory");
        props.put("mail.smtp.port", "587");
        final String password = mbox.getAccount().getDataSourceByName(datasourceName).getDecryptedPassword();
        final String username = datasourceName;
        Session mailSession = Session.getInstance(props,
            new Authenticator() {
                protected PasswordAuthentication getPasswordAuthentication(){
                    return new PasswordAuthentication(username, password);
                }
            }
        );
        Transport transport = mailSession.getTransport("smtp");
        transport.connect();
        transport.sendMessage(mm, rcptAddress);
        transport.close();
2 - Gửi mail tới Gmail bằng java
Dưới đây là code ví dụ:
//Use TLS protocal
        Properties props = new Properties();
        props.put("mail.smtp.auth", "true");
        props.put("mail.smtp.starttls.enable", "true");
        props.put("mail.smtp.host", "smtp.gmail.com");
        props.put("mail.smtp.socketFactory.class", "javax.net.ssl.SSLSocketFactory");
        props.put("mail.smtp.port", "465");
        final String password = mbox.getAccount().getDataSourceByName(datasourceName).getDecryptedPassword();
        final String username = datasourceName;
        Session mailSession = Session.getInstance(props,
            new Authenticator() {
                protected PasswordAuthentication getPasswordAuthentication(){
                    return new PasswordAuthentication(username, password);
                }
            }
        );
        Transport transport = mailSession.getTransport("smtp");
        transport.connect();
        transport.sendMessage(mm, rcptAddress);
        transport.close();
Xem thêm tại các địa chỉ sau:
Gửi mail bằng java
Cách sử dụng TLS/SSL trong java để gửi mail